Định hướng xây dựng Luật nghề Công tác xã hội

Hơn ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Chính trị – xã hội ổn định; kinh tế tăng trưởng khá; đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao. Tuy nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường phát triển thiếu bền vững. Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả. Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới. Sự giàu có tăng lên nhưng bất công không giảm, thu hẹp mà trái lại có xu hướng tăng, mở rộng. Bất công xã hội trở thành lực cản, phá hoại tăng trưởng kinh tế, làm mất ổn định xã hội. Có thể nói, công bằng xã hội trở thành đòi hỏi tất yếu của chính bản thân sự phát triển kinh tế. Giải quyết vấn đề này, không có cách nào khác là khi tăng trưởng kinh tế, phải đi liền với giải quyết vấn đề xã hội. Những vần đề này không chỉ giải quyết bằng pháp luật, bằng hành chính, kinh tế, bằng tuyên truyền, giáo dục, vận động xã hội, mà nó đòi hỏi phải có sự can thiệp mang tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, chuyên gia được  đào tạo về công tác xã hội (CTXH), cách giải quyết mang đầy tính nhân văn, nhân ái, nhân đạo phù hợp với truyền thống và đạo lý của người Việt Nam. “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta”1. Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật chăm lo đời sống
các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, góp phần ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội”, “chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người”, “Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội…; phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh …”2 “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân”. Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012- 2020 cũng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước. Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội. Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội. Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII cũng xác định “Quản lý tốt sự phát triển xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội; thực hiện tốt chính sách người có công; nâng cao chăm sóc sức khỏe nhân dân; xây dựng môi trường sống lành mạnh, văn minh, an toàn”. Nhìn chung, các chính sách an sinh xã hội ngày càng toàn diện hơn, bao trùm các nhu cầu cơ bản của đối tượng về việc làm, dạy nghề, bảo hiểm xã hội, chăm sóc người có công, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng và trợ giúp xã hội. Đồng thời, các đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội cũng từng bước được mở rộng, mức trợ giúp ngày càng cao hơn, cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ngày càng tốt hơn. Thể chế quan điểm của Đảng, Hiến pháp năm 2013 khẳng định "Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” (Điều 34); “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác (Khoản 2 Điều 59)…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *